Trang chủ
Giới Thiệu
Sơ đồ tổ chức
Chức năng nhiệm vụ
Tin tức - Sự kiện
Khí tượng
Thời tiết đất liền 24H
Thời tiết biển 24H
Biểu tượng Thời tiết
Dư báo 10 ngày
Dự báo tháng
Dự báo mùa
Thời tiết nguy hiểm
Bão - Áp thấp nhiệt đới
Không khí lạnh
Nắng nóng
Khô hạn
Thuỷ Văn
Dự báo hạn ngắn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo hạn vừa
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo tháng
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo mùa
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Thủy văn đặc biệt
Thông báo Lũ
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Thông báo Cạn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
T.B Xả nước chống hạn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Phổ biến kiến thức KTTV
Bão & ATNĐ
Mưa lớn
Mưa đá
Dông
Tố, lốc, vòi rồng
Sương mù
Sương muối
Gió khô nóng
Gió mùa, không khí lạnh
Lũ lớn
Lũ quét, sạt lở đất
Hạn hán
Các kỷ lục về KTTV
Thế giới
Khí tượng
Thủy văn
Việt Nam
Khí tượng
Thủy văn
Hỏi đáp về KTTV
Khí tượng
Thủy văn
Nghiên cứu khoa học
Tổng kết tình hình KTTV
Sản phẩm dịch vụ
SMS
Thời tiết các điểm du lịch
Thời tiết hiện tại
Đà Nẵng 21°C
Hải Phòng 17°C
Nha Trang 23°C
Pleicu 15°C
Sơn La 14°C
Tân Sơn Nhất 22°C
Hà Nội 17°C
Vinh 19°C
Việt Trì 17°C
Cập nhật lúc: 7h - 06/01/2009

Ảnh Rada

Ảnh Vệ tinh

Thành phố lớn trên thế giới

Sản phẩm mô hình

Bản đồ thủy văn
TRẬN LŨ LỚN NĂM 1969

 

TRẬN LŨ LỚN NĂM 1969

: Hđ Hà Nội = 13,22m (13h/18/VIII)

      Hđ PhảLại = 6,48m (5h/20/VIII)

- Hình thế thời tiết gây mưa

[ (GHTNĐ) + (KKL + CTBD + RTN) + (RTN + CTBD)]

- Mưa:

lv H: Tx = 12 ngày; å ` XLV = 318mm

lv TB: Tx = 11 ngày; å ` XLV = 237mm

 1 - Diễn biến thời tiết: Có thể chia làm 3 giai đoạn:  

 Giai đoạn 1: Từ ngày 6-10: Miền Bắc chịu ảnh hưởng GHTNĐ có trục nằm theo hướng tây bắc - đông nam vắt qua vùng Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, nối liền với cơn bão Betty ở Thái Bình Dương.

Giai đoạn 2: Từ ngày 11-13: Do ảnh hưởng không khí lạnh về nén rãnh thấp nóng phía tây, kết hợp với rìa lưỡi cao Thái bình dương cũng lấn sang phía tây, độ cong xoáy thuận lớn và hình thành vùng hội tụ gió ở vùng Đông Bắc, đồng thời ở tầng cao 3000-5000m xuất hiện một rãnh thấp và xoáy thuận làm cho thời tiết miền Bắc nước ta cũng xấu thêm.

Giai đoạn 3: Từ 14- 18: Lưu vực sông Hồng chịu ảnh hưởng rãnh thấp nóng phía tây phát triển khá sâu, trên cao rãnh thấp nóng có trục TB-ĐN, xoáy thuận trên cao tồn tại ở vùng Đông Bắc kết hợp với sự hoạt động của rìa lưỡi cao TBD lấn mạnh sang phía tây. Xem hình 9,10 trang 81,82. PL.

  - Ngày 5 và 6 trên lưu vực sông Thao, Lô có mưa nhỏ rải rác, riêng sông Đà có mưa nhiều nơi từ 10-40mm.

 - Ngày 7 & 8 trên lưu vực sông Hồng có nhiều nơi mưa vừa và to, mưa tập trung ở lưu vực sông Đà. Tổng lượng mưa 2 ngày 7 và 8 bình quân trên lưu vực các sông: Đà 78mm, Thao 49mm, Lô 62mm và Hồng 63mm. Những nơi mưa rất to như Than Uyên 155mm, Sìn Hồ 145mm, Phú Thọ 145mm, Tuyên Quang 137mm và Vụ Quang 153mm.

- Ngày 9, 10 lượng mưa giảm hẳn, riêng sông Đà vẫn còn nhiều nơi mưa vừa và to như: Lai Châu 118mm, Than Uyên 142mm, Mường Tè (KT) 87mm...

- Ngày 11 lượng mưa tăng trở lại trên toàn lưu vực sông Hồng.

- Ngày 12 & 13 có mưa rất lớn ở nhiều nơi, đặc biệt vùng trung lưu sông Đà, Lô có mưa trên diện rộng. Tổng lượng mưa 2 ngày bình quân trên lưu vực sông Đà 77mm, Thao 72mm, Lô 148mm và Hồng 84mm. Những nơi mưa rất lớn như Than Uyên 205mm, Lai Châu 119mm, Sìn Hồ 117mm, Bắc Quang 195mm, Hà Giang 186mm và Vĩnh Tuy 175mm...

- Ngày 14, lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Hồng giảm, mưa từ 50¸ 80mm chỉ xảy ra ở vùng biên giới Việt-Trung.

- Ngày 15, 16 & 17 diện tích mưa từ 100-200 mm mở rộng đến hết Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Hà Giang, Tuyên Quang và Bắc Quang. Tổng lượng mưa 3 ngày này đã quyết định hình thành đỉnh lũ lớn ở hạ lưu sông Lô và hạ lưu sông Hồng. Lượng mưa bình quân trên lưu vự sông Đà 194mm, Thao 66mm, Lô 142mm và Hồng 106mm. Những vùng mưa rất lớn như Bắc Quang 378mm, Hà Giang 176mm, Sơn La 119mm (xem hình... trang... PL).

- Ngày 18, trên lưu vực sông Thao, Lô lượng mưa giảm hẳn. Lưu vực sông Đà có mưa vài nơi.

Tổng lượng mưa từ 6-17/VIII, bình quân trên lưu vực sông Đà 351mm, Thao 250mm, Lô 361mm và Hông 318mm.

  Từ ngày 5 ¸ 18/VIII chia làm 3 đợt:

Đợt 1: Từ ngày 5 ¸ 10/VIII, mưa vừa và to tập trung vào ngày 7,8. Tổng lượng mưa 6 ngày bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 127mm, Thương 77mm, Lục Nam 48mm và Thái Bình 92mm; Những nơi có lượng mưa lớn như Đáp Cầu 223mm, Bắc Giang 241mm.

Đợt 2: Từ ngày 11 ¸ 13/VIII: Tổng lượng mưa 3 ngày bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 71mm, Thương 52mm và Lục Nam 64mm; Những nơi có mưa lớn như Đại Từ 143mm, Võ Nhai 102mm và Lục Nam 100mm. Trong 3 ngày 11¸ 13 thì lượng mưa vừa và to tập trung vào ngày 12 với lượng mưa phổ biến 50mm, có nơi mưa rất lớn như Đại Từ 126mm, Lục Nam 98mm.

Đợt 3: Từ ngày 14 ¸ 18/VIII: Tổng lượng mưa 5 ngày bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 117mm, Thương 105mm, Lục Nam 39mm và Thái Bình 96mm; Những nơi có lượng mưa lớn như: Thái Nguyên 216mm, Võ Nhai 187mm, Đáp Cầu 157mm. Mưa vừa và to tập trung vào ngày 15 với lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Thái Bình là 45mm.

Tổng lượng mưa 3 đợt từ ngày 5¸ 18/VIII, bình quân trên các lưu vực sông: Cầu 284mm, Thương 232mm, Lục Nam 151mm và Thái Bình 237mm. Nhưng tâm mưa lớn như Bắc Giang 506mm, Thái Nguyên 350mm, Đáp Cầu 396mm.

  Tình hình nước đệm trước khi sinh lũ: Từ 30/VII đến 6/VIII trên hệ thống sông Hồng đã có một đợt mưa lũ, mực nước đỉnh lũ Hà Nội lên gần mức báo động II.

  Đợt 1: Từ ngày 7-11/VIII

 Sông Đà: mực nước Tạ Bú từ 87,28m (7h/7) lên đến 91,55m (1h/11), mực nước Hoà

Bình từ 19,57m (19h/7) lên đến 21,30m (11h/11)

Nhìn chung đợt lũ này trên sông Đà nhỏ, mực nước các trạm lên chậm.

 Sông Thao

- Mực nước Yên Bái từ 28,58m (19h/7) lên đến 29,63m (7h/10)

- Mực nước Phú Thọ từ 16,45m (1h/7) lên đến 17,18m (17h/10)

 Sông Lô

- Mực nước trạm Hà Giang từ 101,15m (21h/6) lên nhanh đến 105,40m (6h/9).

- Mực nước trạm Tuyên Quang từ 20,98m (19h/6) lên đến 21,71m (1h/9)

- Mực nước trạm Phù Ninh từ 34,88m (7h/7) lên đến 35,86m (13h/9)

 Sông Hồng

- Mực nước Sơn Tây từ 11,56m (7h/7) lên đến 12,50m (1h/10)

- Mực nước Hà nội từ 8,72m (17h/7) lên đến 10,17m (24h/11). Biên độ lũ lên 1,45m sau đó xuống chậm.

Đợt 2: Từ ngày 10 đến 15/VIII.

 Sông Đà

- Mực nước Lai Châu từ 86,85 (1h/7) lên đến 99,96m ( 4h/13)

- Mực nước Tạ Bú từ 91,03m (19h/11) lên đến 96,90m (17h/13)

- Mực nước Hoà Bình từ 21,30m (14h/12) lên đến 23,20m (16h/14).

Đây là đợt lũ lên nhanh và ở mức cao, trên lưu vực sông Đà, chỉ trong vòng 2 ngày mực nước Hoà Bình tăng được gần 2,0m và ở mức cao, mực nước Lai Châu, Tạ Bú và Vạn Yên đều cao nhất trong toàn bộ đợt lũ này.

 Sông Thao

-Mực nước Lào Cai từ 77,77m (1h/10) lên đến 80,63m (11h/13). Biên độ lũ lên 2,86m

- Mực nước Yên Bái từ 28,76m (23h/10) lên đến 32,05m (22h/13). Biên độ lũ lên 3,29m

- Mực nước Phú Thọ từ 16,89m (21h/11) lên đến 19,22m (19h/14). Biên độ lũ lên 2,33m. Đợt lũ này lượng nước gia nhập khu giữa ở các đoạn Bảo Hà - Yên Bái - Phú Thọ nói chung ít.

 Sông Lô

- Mực nước Hà Giang, Tuyên Quang và Phù Ninh đều lên nhanh,

- Mực nước Tuyên Quang từ 20,73m (19h/11) lên đén 28,03m (1h/15). Biên độ lũ lên 7,30m

- Mực nước Phù Ninh từ 35,47m (1h/12) lên đến 39,53m (7h/15). Biên độ lũ lên 4,06m. Thời gian lũ lên 78 giờ. Cường suất lũ lên trung bình 5,2cm/h.

 Sông Hồng

- Mực nước Sơn Tây từ 12,79m (11h/12) lên đến 14,91m (7h/15). Biên độ lũ lên 2,12m.

- Mực nước Hà Nội từ 10,16m (13h/12 ) lên đến 12,52m (15h/15). Biên độ lũ lên 2,36m. Thời gian lũ nên 74 giờ. Cường xuất lũ lên trung bình 3,2cm/h.

  Đợt 3: Từ 15 đến 19/ VIII

Sông Đà

- Mực nước Lai Châu từ 95,83m (13h/15) lên đến 99,56m (21h/16).

- Mực nước Tạ Bú từ 93,94m (9h/15) lên đến 96,38m (21h/16).

- Mực nước Hoà Bình từ 22,33m (5h/16) lên đến 23,27m (24h/17).

Lũ sông Đà đợt này: Mực nước ở trạm Hoà Bình cao hơn đợt trước 7m, nhưng đỉnh lũ tại các trạm Lai Châu, Tạ Bú và Vạn Yên lại thấp hơn đợt trước. Cường xuất lũ lên chậm hơn, thời gian lũ lên chỉ khoảng 1,5 ngày. So sánh với một số trận lũ lớn từ đầu thế kỷ tới năm 1969 thì lần này mực nước đỉnh lũ tại Lai Châu đứng thứ 4 sau năm 1940, 1945, 1964 và 1966. Mực nước tại Hoà Bình đứng thứ 2 sau đỉnh lũ năm 1945.

 Sông Thao

- Mực nước Lào cai từ 79,51m (13h/14) lên đến 81,80m (17h/16)

- Mực nước Yên Bái từ 31,14m (12h/15) lên đến 32,08m (7h/17)

- Mực nước Phú Thọ từ 18,82m (1h/16) lên đến 19,62m (4h/18). Biên độ lũ lên có 80cm.

 Nhìn chung đợt lũ này nối tiếp đợt lũ trước, biên độ lũ lên nhỏ nhưng mực nước chân lũ ở mức cao, mực nước Yên Bái cao hơn đợt lũ trước 3 cm. Trận lũ này lượng nước gia nhập khu giữa không lớn.

 Sông Lô

- Mực nước Sông Lô tiếp tục lên nối tiếp với đợt lũ trước.

- Mực nước Tuyên Quang lên đến 30,18m (19h/17), Phù Ninh 40,62m (5h/19).

So sánh với một số trận lũ lớn khác thì ta thấy lũ sông Lô lần này lớn nhất từ đầu thế kỷ đến 1969, xem biểu 4.

  

Trạm

1940

1945

1964

1966

1968

1969

Tuyên Quang

29,21

28,81

24,56

27,00

25,53

30,18

Phù Ninh

39,75

(39,93)

37,10

38,89

38,70

40,62

 Sông Hồng:

  - Mực nước Sơn Tây từ 14,72m (13h/16) lên đến 15,56m (19h/18). Biên độ lũ lên 0,84m

- Mực nước Hà Nội từ 12,30m (13h,16) lên đến 13,22m (23h/18). Biên độ lũ lên 0,92m.

 Đặc điểm trận lũ.

  (1). Lũ hạ lưu sông Cầu, Thương, Lục Nam và Thái Bình chủ yếu do ảnh hưởng lũ hệ thống sông Hồng vật sang qua sông Đuống, lũ thượng nguồn vào loại nhỏ, chỉ duy nhất những ngày 16,17 và 18 là ảnh hưởng tổ hợp lũ sông Cầu với lũ sông Hồng.

(2). Trước khi lũ bắt đầu lên, mực nước ở hạ lưu các sông Cầu, Thương, Lục Nam và Thái Bình đều đã ở mức cao trên báo động I, lũ sông Hồng lại vào loại rất lớn kết hợp với lũ sông Cầu, đã hình thành một đợt lũ lớn ở hạ lưu hệ thống sông Thái Bình.

(3). Do vỡ đê ở Châu Cầu lúc 17h/17/VIII gần cửa sông Đuống nên đã làm cho mực nước Phả Lại biến dạng từ 6,28m (17h/17) tụt xuống 6,16m rồi lên 6,28m (14h/18) và đứng đến 20h/18 sau lại tụt xuống 6,25m (5h/19) rồi lại tiếp tục lên đến 6,48m (5h/20) rồi xuống dần.

(4). Thời gian lũ cao trùng với thời kỳ triều cường nên phần nào cũng làm hạn chế sự tiêu thoát lũ hạ lưu sông Thái Bình.

(5). Thời gian duy trì nước lũ ở trên mước BĐIII ở hạ lưu các sông Cầu, Thương, Lục Nam và Phả Lại là 11 ngày; Thời gian trận lũ kéo dài 28 ngày.

(6). Khi mực nước Hà Nội lên đến 13,10m thì mở cống Văn Cốc (công trình phân lũ), lưu lượng ban đầu là 600m3/s, đến 16h40' ngày 21 thì đóng hẳn. Lưu lượng phân lũ lớn nhất là 1700m3/s. Theo tính toán do có phân lũ qua công trình Văn Cốc nên mực nước Hà Nội đã giảm đi khoảng 10cm.

 

(7). Đợt lũ này cũng đã làm tràn vỡ hầu hết các đê bối ở hạ lưu sông Thao và sông Hồng...

- Lúc 13h/14 vỡ đê bối Cự Khối , Tầm Xá phía bờ tả dưới Hà Nội.

- Lúc 1h/16 vỡ đê bối Thanh Trì, Hà Nội.

- Lúc 2h/18 vỡ đê bối Văn Giang, Hưng Yên.

 3.2. Trên hệ thống sông Thái Bình

 Sông Cầu:

Trạm Thái Nguyên: Xuất hiện 2 đợt lũ có biên độ lũ lên từ 1,83m đến 3,90 tương ứng với các đỉnh lũ là 24,08m (18h/13) và 27,00m (13h/16).

Trạm Đáp Cầu: Mực nước từ 3,96m (7h/7) lên đến 7,05m (19h/18). Biên độ lũ lên 3,09m. Thời gian lũ lên 276h. Cường suất lũ lên trung bình 1,1cm/h, lớn nhất 3cm/h.

Sông Thương:

Trạm Cầu Sơn: Xuất hiện một đợt lũ với đỉnh là 13,68m (3h/13). Biên độ lũ lên 1,67m. Thời gian lũ lên 32h. Cường suất lũ lên trung bình 5,2cm/h.

Trạm Phủ Lạng Thương: Mực nước từ 3,95m (7h/7) lên đến 6,80m (19h/20). Biên độ lũ lên 2,85m. Thời gian lũ lên 324h. Cường suất lũ lên trung bình 0,9cm/h, lớn nhất 2cm/h.

Sông Lục Nam:

Trạm Chũ: Xuất hiện 1 đợt lũ nhỏ với đỉnh là 7,45m (19h/12) còn đỉnh đợt 2 là 6,75m (1h/20) không phải do mưa lũ thượng nguồn mà do ảnh hưởng lũ hạ lưu vật lên.

Trạm Lục Nam: Mực nước từ 3,92m (13h/7) lên đến 6,80m (5h/20). Biên độ lũ lên 2,88m. Thời gian lũ lên 304h. Cường suất lũ lên trung bình 0,9cm/h, lớn nhất 2cm/h.

Sông Đuống:

Mực nước trạm Thượng Cát từ 8,55m (13h/7) lên đến 12,70m (1h/19). Biên độ lũ lên 4,15m. Thời gian lũ lên 276h. Cường suất lũ lên trung bình 1,5cm/h.

Sông Thái Bình:

Mực nước phả Lại từ 3,57m (13h/7) lên đến 6,48m (5h/20). Biên độ lũ lên 2,91m. Thời gian lũ lên 304h. Cường suất lũ lên trung bình 1cm/h, lớn nhất 2 cm/h.

  Nhận xét chung :

 Thời tiết: ảnh hưởng liên tiếp nhiều loại hình thể thời tiết gây mưa, song đợt mưa lũ này không có ảnh hưởng hoàn lưu bão.

 Mưa: Mưa kéo dài nhiều đợt, nhiều ngày (14 ngày) nhưng lượng mưa và cường độ mưa không lớn như trận lũ VIII/1968.

Lũ:

 (1). Lũ hạ lưu sông Cầu, Thương, Lục Nam và Thái Bình chủ yếu do ảnh hưởng lũ hệ thống sông Hồng vật sang qua sông Đuống, lũ thượng nguồn vào loại nhỏ, chỉ duy nhất những ngày 16,17 và 18 là ảnh hưởng tổ hợp lũ sông Cầu với lũ sông Hồng.

(2). Trước khi lũ bắt đầu lên, mực nước ở hạ lưu các sông Cầu, Thương, Lục Nam và Thái Bình đều đã ở mức cao trên báo động I, lũ sông Hồng lại vào loại rất lớn kết hợp với lũ sông Cầu, đã hình thành một đợt lũ lớn ở hạ lưu hệ thống sông Thái Bình.

(3). Do vỡ đê ở Châu Cầu lúc 17h/17/VIII gần cửa sông Đuống nên đã làm cho mực nước Phả Lại biến dạng từ 6,28m (17h/17) tụt xuống 6,16m rồi lên 6,28m (14h/18) và đứng đến 20h/18 sau lại tụt xuống 6,25m (5h/19) rồi lại tiếp tục lên đến 6,48m (5h/20) rồi xuống dần.

(4). Thời gian lũ cao trùng với thời kỳ triều cường nên phần nào cũng làm hạn chế sự tiêu thoát lũ hạ lưu sông Thái Bình.

(5). Thời gian duy trì nước lũ ở trên mước BĐIII ở hạ lưu các sông Cầu, Thương, Lục Nam và Phả Lại là 11 ngày; Thời gian trận lũ kéo dài 28 ngày.

 

Các tin khác >>
TRẬN LŨ LỚN NĂM 1968 (13/07/2008 14:17:14)

© 2008 Copyright by Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương
Địa chỉ: 4 - Đặng Thái Thân - Hà Nội
Điện thoại: 8255372
E-mail: met_int@hn.vnn.vn