Trang chủ
Giới Thiệu
Sơ đồ tổ chức
Chức năng nhiệm vụ
Tin tức - Sự kiện
Khí tượng
Thời tiết đất liền 24H
Thời tiết biển 24H
Biểu tượng Thời tiết
Dư báo 10 ngày
Dự báo tháng
Dự báo mùa
Thời tiết nguy hiểm
Bão - Áp thấp nhiệt đới
Không khí lạnh
Nắng nóng
Khô hạn
Thuỷ Văn
Dự báo hạn ngắn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo hạn vừa
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo tháng
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Dự báo mùa
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Thủy văn đặc biệt
Thông báo Lũ
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Thông báo Cạn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
T.B Xả nước chống hạn
Hệ thống sông Bắc Bộ
Hệ thống sông Trung và Nam Bộ
Phổ biến kiến thức KTTV
Bão & ATNĐ
Mưa lớn
Mưa đá
Dông
Tố, lốc, vòi rồng
Sương mù
Sương muối
Gió khô nóng
Gió mùa, không khí lạnh
Lũ lớn
Lũ quét, sạt lở đất
Hạn hán
Các kỷ lục về KTTV
Thế giới
Khí tượng
Thủy văn
Việt Nam
Khí tượng
Thủy văn
Hỏi đáp về KTTV
Khí tượng
Thủy văn
Nghiên cứu khoa học
Tổng kết tình hình KTTV
Sản phẩm dịch vụ
SMS
Thời tiết các điểm du lịch
Thời tiết hiện tại
Đà Nẵng 24°C
Hải Phòng 22°C
Nha Trang 25°C
Pleicu 24°C
Sơn La 23°C
Hà Nội 24°C
Tân Sơn Nhất 29°C
Vinh 21°C
Cập nhật lúc: 16h - 06/01/2009

Ảnh Rada

Ảnh Vệ tinh

Thành phố lớn trên thế giới

Sản phẩm mô hình

Bản đồ thủy văn
TRẬN LŨ LỚN NĂM 1968

TRẬN LŨ LỚN NĂM 1968

· : Hđỉnh Hà Nội = 12,23m (4h/16/VIII)

Hđỉnh Phả lại = 6,49m (17h/15/VIII)

· Hình thế thời tiết gây mưa:

[ (B) + (GHTNĐ + KKL) +(B) + (KKL) + RTN]

· Mưa LvH TX : 10 ngày; å XLV = 285 mm.

LvTB TX : 11 ngày; å XLV = 354 mm.

       

    1. Diễn biến thời tiết
    2.  

      Ngày 6, rìa lưỡi cao Thái Bình Dương lấn vào phía nam Trung Hoa, ATNĐ mạnh lên và di chuyển vào vùng biển Quảng Ninh, giải hội tụ nhiệt đới có trục chạy qua Tây Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ.

      Ngày 7, hồi 22 giờ, trung tâm bão số 3 đổ bộ vào bờ biển Quảng Ninh rồi đầy lên thành áp thấp và tiếp tục di chuyển theo hướng bắc - tây bắc. Ngày 8, bộ phận không khí lạnh tràn xuống (đường đứt) nén giải hội tụ nhiệt đới.

      Ngày 9, 10 miền Bắc nước ta nằm trong giải thấp có tâm phụ ở 20oN và 106,5oE

      Ngày 11, không khí lạnh về nén rãnh thấp nóng phía tây.

      Ngày 12,13 Bắc Bộ ảnh hưởng hoàn lưu bão xa (ROSE) có tâm ở khu vực vĩ độ 18 - 19oN và kinh độ 112 -108oE.

      Ngày 14, bão ROSE đổ bộ vào vùng Văn lý, tỉnh Nam Định rồi đi lệch hướng tây - tây nam vùng Hồi Xuân tỉnh Thanh Hoá rồi sang Lào và tan dần. Ngày 15, không khí lạnh phía bắc tràn xuống, phối hợp với rìa của áp thấp bão hình thành một vùng hội tụ gió ở dọc sông Thao và hạ lưu sông Đà.

           

          Ngày 6, trên lưu vực sông Hồng có mưa rải rác, mưa vừa tập trung ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

          Ngày 7, lượng mưa tăng lên, có một số nơi mưa to và rất to như Bắc Hà 51,8mm; Sơn Tây 45,7mm và Quỳnh Nhai 97,2mm.

          Ngày 8 - 11, mưa to và rất to trên toàn bộ lưu vực sông Đà, Thao và Lô. Tổng lượng mưa 4 ngày bình quân trên lưu vực sông Đà 147mm, Thao 152mm, Lô 127mm và sông Hồng 137mm. Những tâm mưa lớn như Tuần Giáo 290mm, Yên Bái 220mm.

          Ngày 12, 13 trên lưu vực sông Đà, Thao và Lô lượng mưa giảm hẳn (do ảnh hưởng hoàn lưu bão xa).

          Ngày 14, do ảnh hưởng trực tiếp hoàn lưu bão gây mưa to đến rất to ở hạ lưu sông Đà và Thao. Những nơi mưa rất lớn như Hoà Bình 214mm, Sa Pa 250mm, Mộc Châu 140mm, Phú Thọ 136mm và Hà Nội 182mm... Lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Đà 52mm, Thao 131mm, Lô 62mm và Hồng 77mm.

          Ngày 15, trên lưu vực sông Thao từ Lào Cai xuống Phú Thọ vẫn có mưa vừa đến mưa to từ 50 - 100mm.

          Ngày 16, trên toàn bộ lưu vực sông Hồng chỉ còn có mưa nhỏ rải rác.

          l Nhìn chung: Tổng lượng mưa cả trận từ 7 - 15/VIII bình quân trên lưu vực sông Đà 241mm, Thao 393mm, Lô 252mm và Hồng 278mm. Tâm mưa lớn 400 - 600mm ở trung du sông Thao và một phần hạ du sông Đà. Lượng mưa từ 300 - 400mm bao trùm hết sông Thao, tả ngạn sông Đà và hạ lưu sông Lô. Những nơi mưa rất lớn như Sapa 533mm, Yên Bái 544mm, Nghĩa Lộ 437mm và Hoà Bình 392mm.

          2-2. Trên lưu vực sông Thái Bình:

          Có thể phân thành 2 đợt mưa lớn:

          + Đợt 1: Từ ngày 6 - 12/VIII: Tổng lượng mưa cả đợt bình quân trên lưu vực Thái Bình: 240mm, trong đó sông Cầu 286mm, Thương 208mm và Lục Nam 182mm. Trên lưu vực sông Cầu có nơi mưa rất lớn như Bắc Cạn 526mm, trong đó riêng ngày 9 mưa 254mm, tổng lượng mưa 2 ngày (9,10) đạt 440mm. Ngày 10, lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Cầu: 136mm, Thương 82mm, Lục Nam 58mm và Thái Bình 101mm, nơi có lượng mưa lớn nhất như Chợ Mới 238mm.

          + Đợt 2: Từ ngày 13 - 16/VIII: Tổng lượng mưa cả đợt bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 125mm, Thương 86mm, Lục Nam 120mm và Thái Bình 114mm. Mưa lớn ở vùng hạ lưu sông Cầu như Đáp Cầu 196mm, ở thượng nguồn sông Lục Nam như Cẩm Đàn 182mm, lượng mưa lớn tập trung vào ngày 14, lượng mưa bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 92mm, Thương 62mm, Lục Nam 60mm và Thái Bình 76mm.

          · Tổng lượng mưa 2 đợt từ 6 - 16/VIII trên lưu vực các sông: Cầu 411mm, Thương 294mm, Lục Nam 302mm và Thái Bình 354mm. Những nơi có lượng mưa rất lớn như : Bắc Cạn 630mm, Đại Từ 495mm, Cẩm Đàn 373mm...

           

          Sông Đà: Mực nước Lai Châu từ 82,75mm (13h/6) lên đến 91,42mm (21h/12), biên độ lũ lên 8,67m. Mực nước Tạ Bú từ 84,40m (1h/7) lên nhanh đến 91,10m (9h/12), sau xuống rồi lại lên đến đỉnh đợt 2 là 89,99m (11h/14). Mực nước hạ lưu sông Đà tại trạm Hoà Bình từ 17,51m (1h/7) lên đến đỉnh đợt 1 là 21,39m (9h/13) và đỉnh đợt 2 là 22,26m (5h/14).
      1. Diễn biến mưa.

           

          2.1. Trên lưu vực sông Hồng

      2. Diễn biến lũ

           

      3.1. Trên hệ thống sông Hồng

       

       

      - Mực nước Yên Bái từ 27,08m (1h/8) lên đến 31,92m (9h/12) và đỉnh đợt 2 là 34,93m (7h/15).

      - Mực nước phú thọ từ 15,38m (1h/9) lên đến 18,60m (23h/12) và đỉnh đợt 2 là 19,92m (24h/16).

      ò Một điều lưu ý rằng trận lũ này trên hệ thống sông Thao có lượng nước gia nhập rất lớn ở đoạn Ngòi Thia - Yên Bái. Mực nước trạm Ngòi Thia từ 32,62m (13h/14), chỉ trong 19 giờ lên đến 40,45m (20h/14) tương ứng với lưu lượng là 5500m3/s. Do có lượng nước gia nhập lớn, chỉ trong một ngày mực nước Yên Bái lên được 3,54m (đây là cường suất nước lên hiếm thấy ở trạm Yên Bái).

      Cũng trận lũ này ở hạ lưu sông Thao đã xảy ra vỡ ở nhiều đoạn đê như: đoạn đê Vực Trường (phía trên trạm Phú Thọ 1km) phía dưới trạm Phú Thọ do vỡ đê hữu ngạn, lượng nước lũ đã tràn vào 2 vùng Tam Nông và Thanh Thuỷ làm ngập khoảng 4000 ha diện tích lúa và hoa mầu. Theo tính toán, nếu đê hữu ngạn sông Thao không bị vỡ thì mực nước Phú Thọ có thể lên đến 20,3 - 20,4m. Trong trận lũ này lượng nước gia nhập của sông Bứa cũng rất lớn. Lưu lượng lớn nhất đo được tại trạm Thanh Sơn sông Bứa đạt tới 2600m3/s.

       

      Lưu ý trong trận lũ này, vào giai đoạn đầu từ 12-13/VIII, lũ hạ lưu sông Lô còn ở mức thấp, trong khi đó lũ sông Thao lại rất lớn cho nên mực nước trạm Phù Ninh bị ảnh hưởng nước vật từ Việt Trì lên và do vậy mực nước đỉnh lũ tại Phù Ninh xuất hiện muộn hơn đỉnh lũ Tuyên Quang tới 54 giờ.

      Lũ hạ lưu sông Hồng:

      Do ảnh hưởng tổ hợp lũ sông Đà, Thao và Lô, mực nước sông Hồng tại trạm Sơn Tây từ 9,52m (7h/8) lên đến 13,76m (11h/13) và đỉnh đợt 2 là 14,64m (4h/16) ứng với lưu lượng lớn nhất là 21.300 m3/s.

      Trạm Hà Nội mực nước từ 6,65m (13h/8) lên đến 11,21m (18h/13) sau đó mực nước Hà Nội tụt xuống một chút rồi lại lên cho đến đỉnh cao nhất là 12,24m (4h/16). Biên độ lũ lên 5,59m, thời gian lũ lên 183h, cường xuất lũ lên trung bình 3cm/h, lớn nhất 8cm/h.

      - Khi mực nước Hà nội lên đến 12,24m (4h/16) thì vỡ đê bối huyện Thanh Trì (cách trạm Hà Nội 10 km về phía hạ lưu).

      Đặc điểm trận lũ

      

      Tổng lượng nước trong trận lũ này ở địa phận Trung Quốc (lấy các trạm Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai để không chế) 8,7x109 m3 chỉ bằng 37,5% tổng lượng nước qua mặt cắt Sơn Tây (nếu tính từ biên giới thì khoảng 33%)

      So sánh với lũ 1945 ta thấy 1945 lũ cả 3 sông đều lớn. Năm 1968 lũ sông Thao rất lớn. Lưu lượng đỉnh lũ sông Thao tại trạm Yên Bái bằng 9.900m3/s gấp gần 3 lần lưu lượng tại trạm Lào Cai, còn lưu lượng sông Đà tại trạm Hoà Bình bằng 11.000m3/s gấp 2 lần lưu lượng đỉnh lũ tại Lai Châu.

      Biểu 2.3 - So sánh giữa trận lũ 1945 với 1968

      Trận

      Sông Đà

       

      Sông Thao

      Sông Lô

      Lai Châu

      Hoà Bình

      Lào Cai

      Yên Bái

      Hà Giang

      Tuyên Quang

      1945

      13.900

      17.800

      7.330

      8.000

      1.550

      8.000

      1968

      5.290

      11.000

      3.600

      9.900

      750

      4.500

       

       

       

       

      - Hệ thống đê bối hữu ngạn sông Thao bị vỡ rất nhiều đoạn, nặng nhất là ở đoạn đê Vực Trường phía hữu ngạn trên mặt cắt trạm Phú Thọ 1km và ở nhiều chỗ phiá dưới Phú Thọ vùng Tam Nông, Thanh Thuỷ làm cho mực nước ở Phú Thọ bị tụt xuống trong 16 giờ liền mới lên lại.

      - Ngày 14, từ sáng đến tối ở tả ngạn sông Hồng thuộc các huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Vĩnh Tường (thuộc tỉnh Vĩnh Phú) lần lượt các đoạn đê đều bị tràn và vỡ làm cho mực nước Hà Nội bị tụt xuống 3cm (11,70mà 11,67m) và đứng trong 4h sau mới lên lại.

      - Hồi 1h16/VIII đê bối Khuyến Lương thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội bị vỡ làm cho mực nước đỉnh lũ Hà Nội nhanh xuất hiện đỉnh và giảm thấp đi một ít.

       

      3-2. Trên hệ thống sông Thái Bình

      Do ảnh hưởng tổ hợp nhiều hình thái thời tiết gây lên nhiều đợt mưa lớn liên tiếp cho nên lũ ở thượng lưu các sông Cầu, Thương và Lục Nam cũng thể hiện nhiều đợt lũ nối tiếp nhau và thường có chân đợt lũ sau lớn hơn chân đợt lũ trước.

      Sông Cầu

      Trạm Thái Nguyên: Mực nước đỉnh lũ lần lượt xuất hiện là 24,16m (19h/8), 28,10m (4h/11) và 26,70m (2h/15) với biên độ lũ lên 2,22¸ 5,00m; Thời gian lũ lên từ 31 ¸ 54h; Cường suất lũ lên trung bình 4 ¸ 12cm/h, lớn nhất 64cm/h.

      Trạm Đáp Cầu: Mực nước từ 3,21m (1h/7) lên đến 7,44m (16h/15). Biên độ lũ lên 4,23m. Thời gian mực nước lũ duy trì ở trên mức BĐIII (5,80m) là 10 ngày. Thời gian cả trận lũ kéo dài 21 ngày.

      Sông Thương

      Trạm Cầu Sơn: Mực nước đỉnh lũ lần lượt xuất hiện là 12,71m (19h/8); 14,05m (14h/11) và 13,99m (7h/15) với biên độ lũ lên 0,97 ¸ 1,46m; Thời gian lũ lên 30 ¸ 55m; Cường suất lũ lên trung bình 2,6 ¸ 3,4cm/h, lớn nhất 5cm/h.

      Trạm Phủ Lạng Thương: Mực nước từ 3,25m (1h/7) lên đến 7,24m (18h/15). Biên độ lũ lên 3,99m. Thời gian lũ lên 209h. Cường suất lũ lên trung bình 1,9cm/h, lớn nhất 6cm/h. Thời gian duy trì mực nước lũ trên báo động III (5,80m) là 10 ngày. Thời gian cả trận lũ kéo dài 21 ngày.

      Sông Lục Nam

      Trạm Chũ: Cũng xuất hiện 3 đợt lũ liên tiếp với các đỉnh là 7,35m (13h/7); 8,05m (17h/10) và 13,63m (18h/14) với biên độ lũ lên từ 3,53 ¸ 7,59m. Thời gian lũ lên 24 ¸ 53h. Cường suất lũ lên trung bình 10,4 ¸ 16,8 cm/h, lớn nhất 93cm/h.

      Trạm Lục Nam: Mực nước từ 3,22m (1h/7) lên đến 7,42m (3h/15). Biên độ lũ lên 4,20m. Thời gian lũ lên 194h. Cường suất lũ lên trung bình 2,2cm/h, lớn nhất 8cm/h. Thời gian lũ duy trì trên nước BĐIII (5,80m) là 9 ngày. Thời gian trận lũ kéo dài 21 ngày.

       

      Trạm Thượng Cát: Mực nước từ 6,75m (13h/8) lên đến 11,75m (1h/6). Biên độ lũ lên 5,0m. Thời gian lũ lên 180h. Cườn