|
1 Chiến lược phòng chống lâu dài
Để góp phần phát triển bền vững, trong chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai lâu dài của Việt Nam, chiến lược phòng chống lũ quét phải nhằm thực hiện các mục tiêu :
- Giảm tổn thất về người, sinh mạng.
- Giảm thiệt hại của cải vật chất của xã hội.
- Giảm sự ngừng trệ về sản xuất, nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân.
- Giảm sự nguy cơ ngày càng gia tăng mức độ của lũ quét.
2 Các biện pháp phòng tránh lũ quét
Thông thường, các biện pháp phòng tránh thiên tai nói chung, phòng tránh lũ quét nói riêng ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều được phân ra làm hai loại: biện pháp công trình và biện pháp phi công trình. Mỗi loại biện pháp có những ý nghĩa, tác dụng khác nhau và thường được sử dụng hỗn hợp nhằm hỗ trợ nhau khắc phục những tác động của thiên tai.
2.1 Các biện pháp mang tính khái quát, định hướng chiến lược
Các biện pháp có tính tổng quát, định hướng là:
- Xây dựng chính sách về lũ quét đặt chung trong chính sách về phòng chống thiên tai, Nhà nước cử ra một cơ quan đứng đầu có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan để hoạch định chính sách và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Đối với Việt Nam, cơ quan đứng đầu là Ban Chỉ Đạo phòng chống lụt bão Trung ương và thường trực là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan thành viên trong Ban Chỉ Đạo để thực hiện công tác chỉ đạo phòng chống lũ quét. Ở các cấp từ tỉnh đến xã, mỗi cấp có Ban Chỉ Huy Phòng chống lụt bão chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các kế hoạch và phương án phòng chống lụt bão nói chung, đặc biệt là các địa phương miền núi quan tâm chỉ đạo thực hiện các phương án phòng chống lũ quét ở địa phương mình.
- Hình thành một hệ thống biện pháp tổng hợp bao gồm các biện pháp quản lý lưu vực ở cả khu sinh lũ và khu chịu lũ, trong đó, nghiên cứu xây dựng hệ thống các biện pháp phòng, chống phải bao gồm cả các điều kiện tự nhiên như: Các thông tin vật lý của lưu vực, các phân tích điều kiện mưa, lũ, các nguy cơ tàn phá của lũ quét... và các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường, các dự án dự kiến phát triển trong tương lai. Cuối cùng là việc xây dựng luật pháp và các quy định dưới luật để việc quản lý được thống nhất và phân công trách nhiệm thực hiện.
2.2 Các biện pháp cụ thể để giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét gây ra
a) Các biện pháp công trình
Từ những phân tích các nguyên nhân hình thành lũ quét nêu ở các phần trên, để đề phòng lũ lụt nói chung và lũ quét nói riêng cần phải tích cực khôi phục rừng phòng hộ đầu nguồn, đặc biệt là các khu vực thường gây ra lũ quét, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhanh chóng trả lại cơ chế bão hoà cho lưu vực, hạn chế khả năng tập trung dòng chảy lũ.
Ở các khu vực thường xẩy ra lũ quét cần được nghiên cứu kết hợp với việc quy hoạch khai thác trị thuỷ, xây dựng các hồ chứa nước đa tác dụng: chống lũ, tích nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát điện...kết hợp với việc điều tiết lũ, phòng chống lũ quét.
Tổ chức khai thông các đường tập trung lũ ở phía thượng lưu các khu vực cần bảo vệ nhằm mục đích không để sinh ra hiện tượng tắc nghẽn dòng chảy, tích tụ nước tạo ra lũ quét nghẽn dòng. Đồng thời cũng phải tổ chức khai thông các đường dẫn lũ ở phía hạ lưu các khu vực cần bảo vệ để đề phòng hiện tượng tắc ứ sinh ra ngập lụt.
Ở các khu vực có điều kiện xây dựng công trình ngăn lũ quét có thể nghiên cứu xây dựng các tuyến đê hoặc tường chắn lũ quét để giữ dòng lũ chảy trong lòng dẫn, ngăn chặn các tác động của lũ quét đối với khu vực cần bảo vệ.
- Phân dòng lũ
Dựa vào địa hình có thể nghiên cứu phân dòng lũ nhằm làm giảm tác động của lũ quét vào khu vực cần bảo vệ. Phân lũ quét đi lệch sang các sông nhánh bằng cách tạo ra kênh hay đường dẫn lũ kéo lệch pha, lệch đỉnh, hạn chế khả năng tập trung lũ tàn phá khu vực cần bảo vệ.
- Xây dựng bổ sung các tràn sự cố ở các hồ chứa nước
Để đề phòng sự cố ở các hồ chứa nước gây ra lũ quét nhân tạo cần phải gấp rút xây dựng bổ sung các tràn sự cố cho các hồ này đồng thời với việc xây dựng các phương án phòng chống lụt bão cho hồ chứa nước, bố trí đủ vật tư, phương tiện và lực lượng cần thiết để có thể khắc phục được ngay những sự cố do lũ, bão gây ra.
- Mở rộng khẩu độ thoát lũ của hệ thống cầu cống của đường sắt Thống nhất và đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận các tỉnh Miền Trung.
Do đặc điểm các sông của miền Trung ngắn và dốc, để tránh tình trạng làm cản dòng lũ gây ra ngập lụt, lũ quét và ách tắc giao thông ở khu vực các tỉnh miền Trung thường diễn ra hàng năm cần phải tính toán quy hoạch tiêu lũ của các hệ thống cầu cống trên hai hệ thống đường này. Đối với những vùng cần tiêu thoát lượng nước lớn cần phải mở rộng thêm khẩu độ các cầu cống, hoặc có thể làm các hệ thống cầu cạn để tạo cho việc tiêu thoát nhanh nước lũ ra biển.
Các biện pháp công trình thường tác động trực tiếp vào dòng lũ quét nhằm chống lại những tác động phá hoại của chúng. Để áp dụng các biện pháp công trình nêu trên cần xuất phát từ điều kiện cụ thể của lưu vực sinh ra lũ quét và khu vực cần bảo vệ. Việc phối hợp hệ thống các biện pháp công trình từ khu sinh lũ đến khu vực chịu lũ cho phép làm giảm, hạn chế các tác hại do lũ quét gây ra, thậm chí có thể loại trừ được lũ quét cho vùng chịu lũ. Đây là vấn đề phức tạp đòi hỏi phải giải quyết bài toán quy hoạch trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản về lũ quét.
b) Các biện pháp phi công trình
Các biện pháp phi công trình không tác động trực tiếp vào dòng chảy lũ nhưng lại tác động vào nguyên nhân, cơ chế hình thành lũ quét nên cũng có thể hạn chế được những tác hại của lũ quét, thậm chí còn có thể triệt tiêu lũ quét. Những biện pháp phi công trình không làm biến đổi đột ngột điều kiện môi trường trên lưu vực, đồng thời đảm bảo sự phát triển lâu bền và mang tính xã hội cao.
Các biện pháp phi công trình được kết hợp một cách hài hoà với biện pháp công trình, hỗ trợ biện pháp công trình phát huy hiệu quả cao trong việc đối phó với lũ quét.
Các biện pháp phi công trình bao gồm:
- Lập bản đồ những nơi xảy ra lũ quét và những nơi nguy hiểm
+ Khảo sát điều tra, tìm kiếm và phát hiện những vùng có nguy cơ về lũ quét, đặc biệt là loại lũ quét nghẽn dòng
Dựa trên đặc điểm địa hình, địa mạo, kết hợp với phương pháp thống kê những trận lũ đã từng xảy ra của từng khu vực để phát hiện những vùng có nguy cơ cao về lũ quét.
+ Lập bản đồ có nguy cơ xảy ra lũ quét.
Việc lập bản đồ vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét được kết hợp với các bản đồ theo dõi các loại thiên tai khác tạo ra một bức tranh đầy đủ về vùng bị ảnh hưởng của thiên tai. Các đầu vào bao gồm: Phân tích tần suất, các bản đồ vùng bị ảnh hưởng, tần suất lũ, các báo cáo thiệt hại, các bản đồ độ dốc và các bản đồ liên quan khác như bản đồ sử dụng đất, thảm phủ thực vật, mật độ dân số và các bản đồ cơ sở hạ tầng.- Dự báo và Cảnh báo lũ quét
Căn cứ vào tài liệu thống kê các trận lũ quét đã xảy ra trong quá khứ, khoanh vùng có khả năng xảy ra lũ quét để đề phòng, đặc biệt quan tâm các khu vực dễ xảy ra hiện tượng sạt lở đất làm tích tụ nước, tạo ra lũ quét nghẽn dòng. Căn cứ các vết lũ hoặc các tàn tích do lũ quét gây ra thiệt hại dùng làm cơ sở để xây dựng các quy hoạch phòng ngừa lâu dài hoặc xây dựng phương án phòng, chống lũ quét hàng năm.
Hệ thống cảnh báo gồm các khái niệm là “Chuẩn bị - Sẵn sàng - Thực hiện” , trong đó các khái niệm đựơc hiểu như sau:
Chuẩn bị: Dự đoán các sự kiện thời tiết khắc nghiệt liên quan đến lũ có thể xảy ra trong tương lai gần (trong khoảng 6h, 12h).
Sẵn sàng: Báo động trước các sự kiện liên quan đến lũ có thể xảy ra ở một địa điểm đã xác định tương đối cụ thể ở trong tương lai gần (chẳng hạn chậm nhất 2 giờ
trước khi xẩy ra lũ…)
Thực hiện: Cảnh báo lũ (chẳng hạn muộn nhất là trong vòng 1h trước khi xẩy ra lũ quét) ở một địa điểm cụ thể của địa phương.
+ Nền tảng của công tác dự báo, cảnh báo.
Đối với lũ quét thường xảy ra trong một thời gian rất ngắn nên không cho phép dùng các biện pháp quan trắc như ở trên các sông lớn để cảnh báo lũ. Bởi vì mưa lớn mặc dù có thể biết trước được song vì lượng mưa và cường độ mưa ta chỉ có thể được biết khi mưa đã chấm dứt mà khi mưa chấm dứt như trên đã nói lũ có thể xảy ra ngay lập tức, như vậy công tác dự báo và cảnh báo thường khó đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống. Nếu chỉ dự báo định tính lũ quét từ trước khi có mưa thì mức độ chính xác rất thấp, có khi lại gây ra lãng phí cho công tác chuẩn bị phòng chống. Ngoài ra, việc dự báo các trận mưa do ảnh hưởng của địa hình hoặc các hình thế thời tiết đặc biệt mang tính chất cục bộ địa phương là một việc làm rất khó khăn hoặc hầu như không thực hiện được. Trong trường hợp này chỉ có thể dùng những kinh nghiệm địa phương.
Để dự báo lũ quét cần phải thiết lập hệ thống được gọi là Báo động (ALERT) để tự động báo động tại chỗ mới đáp ứng yêu cầu về giảm nhẹ thiệt hại.
Hệ thống này bao gồm 3 lọai trạm: Trạm đo mưa, mực nước, trạm trung chuyển và trạm báo động. Trạm đo mưa, mực nước là hệ thống đo đạc tự động và phát tín hiệu báo động khi mưa, mực nước trên sông lên đến mức nguy hiểm. Trạm trung chuyển có nhiệm vụ tiếp nhận những số liệu, tín hiệu báo động của trạm mưa, lũ, xử lý số liệu rồi chuyển về trạm báo động. Trạm báo động thường được đặt ở đồn cảnh sát hoặc gần các khu dân cư, các khu kinh tế cần phải bảo vệ và có nhiệm vụ phát tín hiệu cảnh báo lũ cho công chúng.
+ Hệ thống dự báo, cảnh báo và vận hành hệ thống.
Các bộ phận của một hệ thống cảnh báo lũ hoàn chỉnh bao gồm:- Bộ phận dự báo các sự kiện thời tiết khắc nghiệt.
Đây là bộ phận quan trọng của toàn bộ hệ thống và cũng là bộ phận phức tạp nhất. Năng lực của các nhân viên điêù hành bộ phận này là hết sức quan trọng.
Các yêu cầu ở đây là lưu trữ số liệu khí tượng sinop cơ bản, các số liệu của trạm đo tự động, các số liệu và ảnh vệ tinh, ảnh do các trạm ra đa thời tiết cung cấp. Thêm vào đó là các trang thiết bị, các phần mềm máy tính để khai toán các thông tin phức tạp trong một khoảng thời gian ngắn nhằm phục vụ kịp thời cho việc dự báo lũ quét.
Các số liệu dự báo do các mô hình thời tiết toàn cầu, dự báo mưa số trị sẽ là những trợ giúp đắc lực có ích cần tham khảo trong cảnh báo, dự báo lũ quét.- Sử dụng Ra đa thời tiết để dự báo mưa.
Sử dụng các Ra đa thời tiết chuyên d |