|
Nhìn chung, căn cứ vào những nguyên nhân chính gây ngập lũ, lụt điển hình ở Bắc Bộ trong nhiều thập kỷ qua, có thể khái quát một số dạng ngập lụt sau:
· Ngập úng lụt do mưa lớn nội đồng
· Ngập lụt, úng do mưa lớn trong đồng kết hợp với lũ lớn ngoài sông hoặc do tràn vỡ đê bối, đê địa phương.
· Ngập lụt do lũ lớn trên sông gây tràn, vỡ đê bối, đê địa phương, kết hợp với mưa lớn trong đồng và nước dâng do bão.
· Ngập lụt do vỡ đê.
I. Ngập úng lụt do mưa lớn nội đồng
Ngập úng lụt xảy ra do mưa vượt chỉ tiêu thiết kế của kênh mương, cống, trạm bơm,... dẫn đến úng, lụt cục bộ hoặc trên diện rộng. Mức độ ngập úng lụt tùy thuộc vào lượng mưa, khả năng tiêu thoát nước (công suất trạm bơm tiêu và hệ thống kênh tiêu). Dưới đây khái quát một số trận ngập úng lụt điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ.
1. Trận úng lụt rất lớn cuối tháng V/1994
Do hoạt động của rãnh thấp phát triển từ mặt đất đến tầng 500mb với gió đông nam hội tụ mạnh ở các tầng nên từ 19 đến 20/V/1994 có mưa 20¸100mm ở vùng núi phía bắc, mưa từ 50¸100mm ở đồng bằng Bắc Bộ, mưa lớn tập trung ở nam Hà Nội và Hà Tây (Hà Nội mưa trên 180mm, Hà Đông 199mm, Thanh Oai 178mm, Chợ Cháy 161mm, Thường Tín 187mm, Phú Xuyên 225mm, Hoài Đức 173mm và Nam Định trên 260mm. Đây là đợt mưa hiếm thấy trong tháng V từ 1979 đến 1994. Mưa gây lũ tiểu mãn trong hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Mực nước tại Hà Nội lên đến 6,05m với biên độ lũ 1,73m. Mực nước Phả Lại từ lên đến 2,13m (1h/25), biên độ lũ lên là 1,13m. Lũ tiểu mãn cuốn trôi nhiều hoa màu ven hai bãi sông Hồng và Thái Bình. Mưa lớn gây ngập úng lụt nghiêm trọng ở nội thành Hà Nội, Nam Định và ngập hoa màu của các huyện Thanh Trì, Từ Liêm (Hà Nội), các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Chương Mỹ,... (Hà Tây) và một số huyện của tỉnh Hà Nam, Nam Định,... úng lụt gây thiệt hại nhiều tài sản của nhân dân các tỉnh trên.
2. Trận ngập úng lụt cuối tháng VIII/1994
Do tác động trực tiếp của bão số 6 (HARRY 9418) đổ bộ vào Quảng Ninh, Hải Phòng đêm 28/III, sau đó tiếp tục đi theo hướng tây và suy yếu dần, từ ngày 28-31/VIII ở Bắc Bộ và khu 4 cũ có mưa ở nhiều nơi, khu vực Quảng Ninh và đồng bằng trung du Bắc bộ có mưa to, rất to, từ 100¸300mm, nhiều nơi mưa trên 300mm như Phủ Liễn 385 mm, Nam Định 385mm, Thái Nguyên 331mm, Nho Quan 330mm, Hải Dương 323mm, Hà Nội 320mm. Mưa lớn tập trung vào ngày 29 và 30/VIII.
Một trận lũ nhỏ đã xảy ra trên sông Hồng, Thái Bình và lũ lớn trên các sông khác. Mực nước sông Hồng tại Hà Nội lên đến 9,11m (13h/1/IX), tại Hưng Yên, lên đến 5,65m (1h/1/IX) cao hơn BĐI; tại Phả Lại lên đến 4,73m (19h/31), cao hơn BĐII. Do lũ sông Bùi, sông Tích, mực nước tại Ba Thá trên sông Đáy lên đến 6,00m (13h/I/IX), tại Phủ Lý lên đến 4,41m (19h/I/IX) vượt báo động III 0,31m và cao hơn mức nước 1971 - năm có phân lũ qua đập Đáy, là 39cm. Mực nước Hưng Thi trên sông Hoàng Long lên đến 13,46m (13h/30), tại Bến Đế lên đến 4,09m (19h/31), vượt báo động III là 9cm. Trong khi đó, thuỷ triều vịnh Bắc bộ đang ở giai đoạn triều cường.
Do mưa lớn, cường độ lớn trong đồng với lũ trên hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Đáy (sông Bùi, sông Tích, sông Nhuệ, sông Hoàng Long có lũ lớn) lại gặp triều cường nên đã gây úng lụt nghiêm trọng ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên,... Nội thành Hà Nội nhiều nơi ngập sâu 0,5m-1,0m, thậm chí trên 1,0m trong nhiều ngày, hơn cả trận úng lụt XI/1984. Ngập úng lụt làm các đường liên xã, liên huyện, liên tỉnh bị hư hại nặng, nhiều đoạn đường quốc lộ số I cũng bị hư hại. Nhiều kênh mương, đê, kè, cống và các hồ chứa nhỏ, mương phai cũng bị hư hỏng nặng. Thiệt hại do đợt mưa úng lụt này ở đồng bằng Bắc bộ lên tới hàng trăm tỉ đồng.
3. Trận úng lụt lịch sử tháng XI/1984 ở Bắc Bộ
Tác động tổ hợp của xoáy thuận (tàn dư bão số 9 đổ bộ vào Quy Nhơn tối 7/IX) ở tầng cao có tâm nằm trên vùng đông bắc Thái Lan, hội tụ gió đông nam dày và mạnh với gió tây nam ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ; hoạt động của rãnh gió tây gây nên dòng xiết mạnh mẽ ở trước rãnh, tạo điều kiện thuận lợi cho dòng thăng phát triển ở khu vực Bắc Bộ; tầng cao trên 10km là một áp cao đã gây đợt mưa rất to kèm theo dông, tố khác thường kéo dài, ở Trung Bộ và Bắc Bộ, trong đó mưa tập trung vào ngày 9, 10/XI. Mưa rất to ở Thanh Hoá, Hà-Nam-Ninh, Hải-Hưng, Hà-Sơn-Bình, Hà Nội, Hà-Bắc, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, đạt 100¸700 mm. Mưa 300¸700mm ở Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội và vài nơi ở Thanh Hoá, Hải Dương, Hưng Yên. Tại Kim Bôi mưa 701,9mm, Lạc Sơn 690,0mm, Vân Đình 512mm, Thường Tín 571,0mm, Phú Xuyên 479,0mm, Láng 561,0mm, Đông Anh 526,0mm,... Lượng mưa ngày 10/XI tại Kim Bôi 536,9mm, Vân Đình 413,0 mm, Láng (Hà Nội) 395,0mm,... Đây là đợt mưa đặc biệt lớn trong tháng XI và chưa từng thấy cùng kỳ trên 100 năm qua ở đồng bằng Bắc Bộ (từ 1886 đến 1998).
Mưa lớn gây một đợt lũ nhỏ trên hệ thống sông Hồng, Thái Bình, lũ vừa hoặc lớn (sông Hoàng Long) trên hệ thống sông Đáy. Ngập úng lụt chủ yếu do mưa úng nước trong đồng. Tại Hà Nội, các quận ở phía tây và nam thành phố, ngập sâu từ 0,5 đến trên 1m nước. Diện tích ngập úng lụt gây mất trắng hoa màu ở Hà Nội, Hà-Sơn-Bình, Hà-Nam-Ninh và Hải-Hưng khoảng 7,8 vạn ha. Ngoài thiệt hại do ngập úng lụt, ở một số tỉnh như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Hòa Bình, Hà-Nam-Ninh,... còn xảy ra hiện tượng giông, tố, vòi rồng hoặc lốc trong ngày 10, làm đổ nhà cửa, cây cối, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ.
4. Trận ngập lũ lụt đầu tháng X/1978 ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ
Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 10 (Lola) đổ bộ vào Tiên Yên, Quảng Ninh rạng sáng 3/X, sau đầy dần lên thành vùng áp thấp và tiếp tục di chuyển theo hướng tây qua các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ,... đã mưa từ 100¸200mm ở hầu hết vùng núi, trung du, phía bắc đồng bằng Bắc Bộ. Tâm mưa lớn từ 200¸500mm thuộc lưu vực sông Công và sông Phó Đáy. Riêng ngày 4/X, mưa tại Ký Phú 496mm, Đại Từ 439mm, Phổ Yên 249mm, Quảng Cư 352mm, Phúc Yên 262mm,... Tổng lượng mưa cả đợt từ ngày 2¸5/X, bình quân trên lưu vực sông Công là 480mm, sông Phó Đáy 300mm.
Đã xuất hiện trận lũ lịch sử trong tháng X trên các sông con ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ: Trên sông Công, lũ lịch sử, lũ quét ở Đại Từ, lũ làm đổi dòng các suối; đập tràn hồ Núi Cốc cũng bị sạt lở và vỡ, gây thiệt hại rất lớn về người và của ở huyện Đại Từ. Nhiều nhà cửa, cầu cống và hoa màu ở vùng Đại Từ bị quét sạch, diện tích lúa bị ngập trôi là 318ha. Trên sông Phó Đáy, xuất hiện lũ lịch sử. Đỉnh lũ tại Quảng Cư đến 31,61m (5h/4/X), cao hơn đỉnh lũ 1971 là 0,35m. Do lũ lớn, kéo dài gây ngập lụt nghiêm trọng ở hai ven bờ sông và ngập úng vùng hạ lưu sông Phó Đáy thuộc huyện Tam Đảo, Mê Linh, Vĩnh Lạc. Diện tích lúa bị ngập lụt là 60.000 ha, trong đó 3.000ha bị mất trắng.
II. Ngập lụt, úng do mưa lớn trong đồng kết hợp với lũ lớn ngoài sông
1. Trận ngập lũ, úng tháng VIII/1969
Do tác động tổ hợp liên tiếp và đan xen các hình thái thời tiết như dải hội tụ nhiệt đới, không khí lạnh nén rãnh thấp nóng phía tây hoặc rìa lưỡi cao Thái Bình Dương phát triển mạnh sang phía tây, từ ngày 6¸17/VIII, mưa lớn từ 400¸500 mm ở thượng nguồn sông Đà, Thao, Lô, mưa giảm dần ở vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ, từ 400¸200mm; tại Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, mưa 100mm hoặc dưới 100mm. Tổng lượng mưa cả đợt từ ngày 6¸17/VIII, bình quân trên lưu vực sông Hồng 318mm, Thái Bình 237mm, vùng đồng bằng Bắc bộ khoảng 150mm.
Trên sông Hồng - Thái Bình xảy ra lũ rất lớn, trên mức BĐIII. Mực nướ |