|
1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
Lưu vực sông Hương - sông Bồ thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, bao gồm các huyện: Nam Đông, một phần Phú Lộc, Hương Thủy, Phú Vang, thành phố Huế, Hương Trà, Quảng Điền và một phần của Phong Điền. Dòng chính sông Hương dài trên 100km (còn gọi là Hữu Trạch) bắt nguồn từ độ cao 1.318m, chảy gần theo hướng Bắc Nam ra biển ở cửa Thuận An. Sông Hương có nhánh chính là Tả Trạch dài 51km, diện tích lưu vực là 729km2, gặp Hữu Trạch ở ngã ba Tuần (cách thành phố Huế 10 km về phía thượng lưu). Ngoài ra, còn có sông Bồ (dài 94km, diện tích lưu vực 938km2) hội lưu với sông Hương ở ngã ba Sình (cách thành phố Huế 8 km về phía Bắc). Diện tích toàn bộ lưu vực hệ thống sông Hương là 2.690 km2, trong đó trên 80% là đồi núi. Lưới sông không dày (0,6km/km2). Địa hình thay đổi đột ngột, từ thượng lưu xuống miền đồng bằng, hầu như không có đoạn chuyển tiếp. Rừng tự nhiên bị tàn phá trong chiến tranh và khai thác bừa bãi sau này. Rừng mới phần lớn là thông, phi lao và một số loại cây công nghiệp. Đá cứng ở miền núi cao; đá xanh, đá ong xốp và đất badan ở miền trung du, đất pha cát ở đồng bằng và cát ở ven biển. Thổ nhưỡng xấu, không có mùn và màu vì bị xói mòn. Tỉnh Thừa Thiên-Huế có tổng diện tích là 500.920ha, trong đó đất nông nghiệp 49.107ha, đất lâm nghiệp 180.412ha. Trừ huyện Nam Đông ở miền núi, còn các huyện đồng bằng đều chịu ảnh hưởng lớn của lũ lụt. Ruộng đất ở đồng bằng sông Hương ở mức thấp so với mực nước biển và mực nước lũ và hầu hết bị ngập khi lũ trên BĐ III (tại Huế, BĐ 3 là 3,00m). Hai phần ba số dân và 2/3 số nhà cửa trên lưu vực sông Hương có khả năng ngập khi gặp lũ lớn. Đường sắt và QL1A chạy dọc theo tỉnh từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đoạn từ Phú ốc đến Huế dài trên 15km đi qua cánh đồng ngập lụt, còn đoạn ở hữu ngạn Huế, nằm tương đối cao. Nhiều tỉnh lộ, đường liên xã, liên vùng đi qua đồng bằng thường bị ngập khi lũ lớn. Trên lưu vực có 10 hồ chứa vừa và nhỏ, dung tích từ 2-10 triệu m3; 6 đập dâng nước để tưới; 56 trạm bơm để tưới, tiêu hoặc kết hợp; hệ thống đê ngăn mặn, ngăn lũ tiểu mãn dọc sông Hương từ Quy Lai đến Tân Mỹ, dọc phá Tam Giang, phá Đông và Cầu Hai.
2. Đặc điểm khí tượng thủy văn.
Lưu vực sông Hương - sông Bồ nằm trong vùng mưa lớn của miền Trung, lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.868mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng VIII đến tháng XII, ba tháng mưa chính là IX-XI, với lượng mưa 3 tháng là 1.850mm, chiếm 65,9% lượng mưa năm, trong đó lượng mưa tháng X là 796mm chiếm 43% lượng mưa mùa. Lượng mưa 3 ngày lớn nhất ứng với tần suất 5% trên lưu vực sông Hương từ 600-1000mm. Mưa giảm dần từ ven biển lên thượng lưu và từ Nam lên Bắc. Bão, giải HTNĐ hoạt động riêng rẽ có thể gây ra lũ đặc biệt lớn trên sông Hương. Không khí lạnh hoạt động riêng rẽ hoặc KKL phối hợp với bão hoặc với giải HTNĐ cũng gây ra lũ trên BĐ 3. Lũ lớn xảy ra trong các tháng IX-XI, nhưng cuối tháng V/1989, đã có lũ trên BĐ 3 hơn 1m tại Huế. Do đặc điểm bờ biển Thừa Thiên - Huế, nên nhiều khi, trước khi đổ bộ vào phía bắc (Quảng Bình-Thanh Hóa) bão đã đi men theo bờ biển của khu vực này và gây ra mưa to, lũ lớn ở đây. Năm 1990 có 5 lần bão gây lũ trên BĐ 3 tại Huế, mặc dù, trong cả 5 lần, bão đều không trực tiếp vào Thừa Thiên-Huế. Khi lũ sông Hương, sông Bồ lên cao mà gặp bão vào trực tiếp thì tổn thất vô cùng to lớn. Từ 1976-1998, có hai lần áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào đồng bằng sông Hương gây ra lũ trên BĐ 3.
3. Đặc điểm 2 trận lũ lụt lớn X/1983 và X/1990.
+ Trận lũ ngày 30/X/83, đỉnh lũ tại Nguyệt Biều (trên t/p Huế 5km) là 4,88m, vượt BĐ3 là 1,85m, ứng với tần suất khoảng 5-10% (trận lũ năm 1975 có đỉnh là 5,17m và năm 1953 là 6,10m). Lũ lụt lớn tháng X/1983 trên sông Hương đồng bộ với lũ lụt lớn trên sông Thạch Hãn. Trong giai đoạn đầu, một cơn bão đổ bộ vào Quảng Bình ngày 26/X kết hợp với KKL gây ra mưa vừa rải rác trong các ngày 26-28/X sinh trận lũ vừa (Thượng Nhật 650m3/s, Huế 2,78m), mực nước ở Huế lên trên BĐ 2 là 78cm, kéo dài trong một ngày, từ 7h ngày 29 đến 7h ngày 30. Sau đó, một trận bão khác đổ bộ vào Phú Yên - Khánh Hoà ngày 29/X gây ra mưa rất to, lượng mưa 12 giờ tại Nam Đông là 313,5mm, Huế 103,9mm; lượng mưa 2 ngày tại Nam Đông là 892,2mm, tại Huế 406,9mm. Đỉnh lũ thứ 2 tại Thượng Nhật là 1.120m3/s, tần suất trên 10%, tại Huế là 4,88m vào 20h 30/X. Trên sông Bồ tại Phú ốc, lũ lên tương đương với sông Hương, nhưng khi lũ trên dòng chính bắt đầu rút, mực nước tại Phú ốc lại cao hơn tại Huế từ 1-1,5m, lũ sông Bồ phân sang sông Hương để đổ ra cửa Thuận An làm kéo dài thời gian ngập lụt. Lũ duy trì trên BĐ 3 tại Huế là 60h. Lũ không bị tác động của nước dâng.
+ Trận lũ lụt ngày 16 tháng X năm 1990, đỉnh lũ tại Huế là 4,56m. Lũ do mưa của ATNĐ vào Quy Nhơn-Tuy Hòa sáng 14/X và giải HTNĐ ở 13-140 vĩ bắc trong ngày 14-16/X. Lượng mưa 2 ngày 14, 15 tại Tà Lương là 587mm, Phú Ôc 234mm, Kim Long 356mm. Thượng nguồn sông Hương xuất hiện lũ kép 2 đỉnh lũ, lưu lượng lớn nhất tại Thượng Nhật đều khoảng 450-480m3/s; ở hạ lưu, lũ lên làm 2 đợt: đợt đầu đạt đỉnh là 2,20m lúc 1h ngày 15, đợt sau là 4,56m lúc 15h 16/X.
4. Tình hình ngập lụt ở vùng đồng bằng sông Hương - sông Bồ
+ Vùng ngập lũ lụt.Dải ngập lụt ở đồng bằng sông Hương kéo dài từ sông Bồ cho đến vụng Cầu Hai (dài 40km, rộng 10-15km), chạy song song với phá Tam Giang và vụng Đông và đê biển. Dọc theo sông Hương, vùng Kim Long, mặt đất cao từ 2-2,5 mét nên ngập sâu từ 2,5-3,0m, từ ngã ba Sình trở xuống, ngập nông hơn. Dọc theo sông Bồ, ngập sâu 2,5-3 mét; đoạn đường sắt và QL1A từ sông Bồ đến sông Hương thường bị ách tắc do ngập sâu. Dọc sông Đại Giang, từ đông nam Huế đến vụng Cầu Hai, mặt ruộng cao từ 0 đến 1,5m nên ngập sâu trên
Có thể chia vùng ngập làm 2:
- Phần Bắc sông Hương, gồm cả tả ngạn sông Bồ, giới hạn ở phía tây bởi dãy đồi cao 150-300m. Lũ sông Hương và Bồ phân tán qua nhiều sông đào và sông tự nhiên để thoát ra biển. Sông Bồ phân lưu sang sông Hương tại ngã Ba Sình cách cửa sông 5km. Từ cửa Nham Biền (thượng lưu Huế 5km) sông Hương tách ra ba nhánh: 1 nhánh nối với sông Bồ (ở chợ Kệ, xã Hưong Xuân, huyện Hương Trà; 1 nhánh nối với sông Bồ ở xa Hương Toàn; và 1 nhánh là sông Bạch Yến chảy qua Kim Long, An Hòa rồi lại đổ vào sông Hương tại Bảo Vinh, ở hạ lưu thành phố Huế. Từ Phò Nam trên sông Bồ, một phân lưu dẫn nước ra phá Tam Giang qua cống An Xuân và cống Hà Đồ, phân lưu khác dẫn nước sông Bồ từ Hương Toàn ra phá Tam Giang qua cống Quán Cửa.
- Phần Nam sông Hương, giới hạn ở phía tây bởi đường quốc lộ 1A và đường sắt. Lũ sông Hương thoát theo 2 đường: sông Đại Giang (Lợi Nông) từ cống Phú Cam chảy song song với đường sắt đổ ra vụng Cầu Hai và sông Như ý từ Đập Đá trên sông Hương: 1 nhánh đổ vào sông Đại Giang, còn nhánh kia đổ vào đầm An Truyền. Hai bên sông Đại Giang và Như ý đều có đê bảo vệ. Các sông suối trước khi đổ ra biển đều chảy hệ thống đầm, phá dài dọc theo bờ biển, và thông với biển qua cửa Tư Hiền và Thuận An. Cửa Tư Hiền đã bị bồi lấp hoàn toàn.
+ Thời gian ngập lụt thường kéo dài 3-5 ngày. Những vùng trũng sâu ở đồng bằng, do có nhiều yếu tố tác động như các hệ thống bờ vùng, bờ thửa, hệ thống đê, kênh tưới tiêu thủy lợi nên ngập lụt lâu hơn, có nơi 7-10 ngày mới tiêu hết.
+ Hướng thoát lũ: Theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất, từ phía Nam lên phía Bắc, lũ sông Hương đổ ra phá Tam Giang. Ngoài ra, lũ sông Bồ đổ vào hạ lưu sông Hương xuống phá Cầu Hai; hướng thứ hai, từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tức là từ đồng bằng sông Hương xuống phá Cầu Hai. Sau khi đổ vào hệ thống đầm phá, lũ thoát ra biển theo cửa Thuận An và Tư Hiền.
Tổn thất do ngập lụt. Lũ lụt lớn tháng X/1983 và cơn bão số 8 tháng XI gây tổn thất lớn cho Thừa Thiên-Huế: 237 người chết, 7.642 ha hoa màu bị ngập, 603 ha lúa hè thu bị mất trắng, 770ha ruộng bị xói lở; 1.760 con trâu bò và 25.844 con lợn bị chết; hệ thống đê biển bị sạt lở, hầu hết các công trình thủy lợi vừa và nhỏ bị trôi; 1.996.000m3 đất trôi, 10.716 m3 đá xây bị phá, 28.800m3 đá lát bị trôi và 2.858m3 đá lát bị phá huỷ. Thiệt hại là 10 tỷ đồng. 14 người chết, 90.156 nhà bị ngập, sạt lở 387.000m3 đất, ngập trên 480 ha. Ngoài ra, giao thông, công nghiệp, xây dựng, lâm nghiệp,... thiệt hại hơn 2 tỷ đồng.
|