|
TRẬN LŨ LỊCH SỬ NĂM 1971
· Lũ: Hđ Hà Nội: 14,13m (5h/22/VIII)
Hđ Phả Lại: 7, 21m (9h/22/VIII)
· Hình thế thời tiết gây mưa.
(XT + GHTNĐ + RTN + T + CTBĐ)
· Mưa: LvH å 1-10 XLV = 255mm; Tx = 10 ngày.
LvTB å 1-11 XLV = 247mm; Tx = 11 ngày
Diễn biến thời tiết
Miền bắc nước ta chịu ảnh hưởng chủ yếu của giải hội tụ nhiệt đới (GHTNĐ), rãnh thấp nóng phía tây (RTN), hoàn lưu bão xa, rìa lưỡi cao Thái Bình Dương (CTBD) lấn sang phía tây.
- Ngày 12, hoạt động mạnh của GHTNĐ.
- Ngày 13, hồi 7h trung tâm bão ở vĩ độ 17oN và kinh độ 128oE; RTN phía tây có trục tây bắc - đông nam. GHTNĐ nối liền RTN với bão ở ngoài phía tây biển Thái bình Dương.
- Ngày 14, hồi 7h trung tâm bão ở 18,0oN - 121,2oE, bão di chuyển theo hướng tây bắc. RTN phía tây vẫn ảnh hưởng tới Bắc Bộ. GHTNĐ nối với bão ở vĩ độ 19-20oN.
- Ngày 15, hồi 7h trung tâm bão ở 18,4oN - 116oE di chuyển theo hướng tây bắc. Bão và RTN phía tây tạo thành một rãnh thấp có trục TB-ĐN.
- Ngày 16, bão vẫn di chuyển theo hướng tây bắc, GHTNĐ dịch lên vùng đồng bằng Bắc Bộ và có trục vắt qua cả vùng Tây Bắc.
- Ngày 17, GHTNĐ hoạt động mạnh lên, đồng thời có sự tác động của rìa lưỡi cao TBD và xoáy thấp trên cao cũng với thấp bão.
- Ngày18, ảnh hưởng hoạt động của GHTNĐ phối hợp với xoáy thấp trên cao và rìa lưỡi cao TBD. Ngày 18, bão đổ bộ vào vùng Hương Cảng (Trung Quốc) và đầy dần lên. Rãnh thấp bao trùm cả miền Bắc nước ta, GHTNĐ nằm theo hướng TB-ĐN chạy dọc theo sông Thao xuống đến vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ.
- Ngày 19, miền bắc vẫn chịu ảnh hưởng của GHTNĐ có trục TB-ĐN xoáy thấp đầy lên, rìa lưỡi cao TBD phát triển sang phía tây.
- Ngày 20, GHTNĐ dịch chuyển dần xuống phía Nam và cắt ngang qua vùng Thanh Hoá. Mặt khác rìa lưỡi cao TBD lấn vào phía đông bắc Bắc Bộ, gió đông nam khá mạnh.
- Ngày 21, thời tiết miền Bắc tốt hẳn lên.
2- Diễn biến mưa.
2.1. Trên lưu vực sông Hồng
- Ngày 12, có mưa rải rác nhiều nơi trên lưu vực sông Hồng.
- Ngày 13, trên lưu vực sông Hồng có nhiều nơi mưa từ 20-50mm, có nơi mưa từ 20-50mm hoặc trên 100mm như: Hà Giang 102mm, Chiêm Hoá 108mm.
- Ngày 14, mưa chủ yếu từ 10-20mm, có nơi mưa trên 50mm như: SaPa 78mm, Yên Bái 51mm...
- Ngày 15, thượng nguồn sông Lô - Gâm lượng mưa tăng lên phần lớn trên 25mm, một số nơi như: Hà Giang, Ngòi Sảo và Bắc Mê mưa trên 50mm.
- Ngày 16, vùng trung du sông Lô - Gâm mưa phổ biến từ 25-50mm, tâm mưa lớn 100-200mm nằm gọn trong vùng Vĩnh Tuy - Bắc Quang, tại Việt Lâm mưa 232mm.
- Ngày 17, mưa lớn trên diện rộng, lượng mưa trên 50mm bao trùm vùng trung du tả ngạn sông Đà, toàn bộ lưu vực sông Thao và Lô. Vùng Lào Cai - Bảo Hà mưa lớn hơn 100mm. Đặc biệt có nơi mưa rất to như: Việt Lâm 269mm, Bắc quang 251mm. Vùng hữu ngạn sông Đà mưa từ 25-50mm. Ở địa phận Trung Quốc mưa 40-60mm, riêng trạm Mạn Hảo mưa 83mm. Lượng mưa ngày 17 bình quân trên lưu vực sông Đà 42mm, Thao 84mm, Lô 91mm và Hồng 68mm.
- Ngày 18, vùng mưa 100-200mm lấn dần sang phía tây bao trùm vùng Bắc Quang, Bắc Hà, Lào Cai và Bảo Hà. Vùng mưa 50-100mm thu hẹp lên phía bắc một chút bao trùm Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu... Địa phận Trung Quốc mưa dưới 25mm, riêng Kim Thuỷ Hà mưa 34mm.
- Ngày 19, vùng thượng lưu sông Đà và toàn bộ trung hạ lưu sông Thao, Lô mưa từ 26-50mm. Vùng mưa 50-100mm phân bố dọc theo hướng núi TB-ĐN bao trùm Lào Cai, Lục Yên. Một số trạm thuộc địa phận Trung Quốc như: Hồng Hà, Mạn Hảo, Kim Thuỷ Hà mưa từ 25-50mm, riêng Lý Tiên Độ mưa 88mm.
- Ngày 20, trên lưu vực vẫn còn mưa từ 10-20mm, riêng vùng trung hạ du sông Thao, Lô từ Yên Bái, Hàm Yên, Chiêm Hoá tới miền đồng bằng trung du Bắc Bộ mưa từ 25-50mm.
- Ngày 21, lượng mưa giảm hẳn, trên lưu vực sông Hồng chỉ còn có mưa rải rác.
· Tổng lượng mưa 3 ngày 16, 17 và 18 bình quân trên lưu vực sông Đà 104mm, Thao 128 mm, Lô 148 mm và Hồng 123 mm. Những nơi mưa lớn như Sìn Hồ 242 mm, Lào Cai 272 mm, Hà Giang 252 mm.
· Tổng lượng mưa 10 ngày từ 12 đến 21 tháng VIII bình quân trên lưu vực sông Đà 211mm, Thao 280mm, Lô 295mm và Hồng 255mm. Những vùng mưa rất lớn như Sìn Hồ 454mm, Nậm Giàng 326mm, Tam Đường 302mm, Sa Pa 381mm, Lào Cai 386mm, Yên Bái 323mm...
· Nhận xét:
Những đợt mưa trước làm cho mặt đệm lưu vực bão hoà và lòng sông thì đầy nước, vì lũ đợt trước chưa kịp rút thì đã tiếp đến đợt lũ sau. Trong điều kiện đó, đợt mưa về cuối với cường độ rất lớn rất dễ tạo nên một đỉnh lũ cao. Từ ngày 6 đến ngày12 khu giữa Yên Bái - Phú Thọ đã mưa 200-300mm, trung hạ du các sông đều mưa trên 100mm. Mưa chính thức gây ra trận lũ lớn nhất bắt đầu từ ngày 13 đến 20, trong đó có thể phân thành 2 đợt: đợt 13-16 và đợt 17-20. Lượng mưa có tính chất quyết định tạo đỉnh lũ lớn tập trung vào 3 ngày 17 đến 19 tháng VIII.
Diện mưa trên 300mm bao gồm hết lưu vực sông Lô - Gâm (địa phận Việt Nam), trung du sông Thao (từ biên giới Lào Cai đến Phú Thọ) và một bộ phận diện tích tỉnh Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ). Trung tâm mưa trên 600mm nằm trên một dải hẹp từ Yên Bình Xá đến Việt Lâm.
2.2. Trên lưu vực sông Thái Bình
Từ 12 - 21/VIII, có thể chia làm 2 đợt mưa lớn.
- Đợt 1: Từ 12 - 19/VIII: Tổng lượng mưa 5 ngày bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 99mm, Thương 52mm, Lục Nam 46mm và Thái Bình 74mm. Những nơi mưa lớn như Phúc Yên 171mm, Phổ Yên 135mm, Võ Nhai 126mm, Đại Từ 122mm.
- Đợt 2: Từ 17 -21/VIII: Tổng lượng mưa 5 ngày bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 102mm, Thương 141mm, Lục Nam 173mm và Thái Bình 173mm. Những nơi mưa lớn như Thác Riềng 321mm, Bắc Cạn 283mm, Chợ Chu 293mm, Thái Nguyên 268mm, Võ Nhai 231mm, Yên Thế 182mm, Sơn Động 264mm, Lục Nam 173mm. Lượng mưa lớn tập trung vào ngày 17-19.
Tổng lượng mưa 2 đợt từ 12 - 21/VIII, bình quân trên lưu vực các sông: Cầu 301mm, Thương 193mm, Lục Nam 219mm và Thái Bình 247mm. Những nơi mưa lớn như: Tân Cương 678mm, Thác Riềng 402mm, Võ Nhai 357mm và Sơn Động 315mm .
3. Diễn biến lũ.
3.1. Trên hệ thống sông Hồng Tình hình trước khi sinh lũ: Lòng sông đầy nước và mặt đệm lưu vực đã bão hoà. Từ đầu tháng VII đến 12 tháng VIII, mưa lũ xảy ra liên tiếp trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ở trung hạ du các sông Đà, Thao, Lô, đất đã bão hoà nước. Nếu dùng lượng mưa ảnh hưởng kỳ trước Pa để đặc trưng cho lượng trữ nước trong đất trước khi xảy ra lũ thì ở nhiều nơi tới ngày 13 tháng VIII, độ ẩm Pa đã đạt mức bão hoà Imax. Xem biểu 5.
|
Sông
|
Khu vực
|
Imax(mm)
|
Pa(mm)
|
|
Thao
|
Lào Cai - Yên Bái
|
60
|
60
|
| |
Yên Bái - Phú Thọ
|
90
|
57
|
|
Đà
|
Lý Tinh Độ - Lai Châu
|
80
|
64
|
| |
Vạn Yên - Hoà Bình
|
60
|
60
|
|
Cầu
|
lưu vực Thái Nguyên
|
70
|
70
|
Điều đó nói lên điều kiện ban đầu bất lợi của trận lũ lớn lịch sử hiếm thấy.
Toàn bộ quá trình lũ lên có thể chia ra làm 2 đợt:
Đợt 1: Từ 13 -16/VIII : Trên sông Đà, Thao và Lô hình thành một cơn lũ nhỏ làm cho mực nước Hà Nội trưa ngày 17 lên chậm dần rồi gần như đứng lại ở mức 11,20m. Xem biểu 6.
Biểu 2.6: Đặc trưng đợt lũ đầu
|
Trạm
|
Sông
|
Chân lũ
|
Đỉnh lũ
|
Biên độ lũ lên
|
| |
|
Txh
|
Hc(m)
|
Txh
|
Hđ(m)
|
D H(m)
|
|
Hoà Bình
|
Đà
|
13h/14/VIII
|
20,86
|
1h/16/VIII
|
21,55
|
0,69
|
|
Yên Bái
|
Thao
|
3h/13/VIII
|
31,01
|
20h/15/VIII
|
32,43
|
1,42
|
|
Phù Ninh
|
Lô
|
11h/13/VIII
|
36,04
|
19h/14/VIII
|
36,76
|
0,72
|
|
Hà Nội
|
Hồng
|
2h/14/VIII
|
10,37
|
10h/17/VIII
|
11,20
|
0,83
|
Đợt 2: Từ17 - 21/VIII: Tương đồng với diễn biến mưa, ngày 16 tháng VIII, mực nước các sông bắt đầu lên lại, đặc biệt do mưa tập trung vào 2 ngày 17 và 18 nên lũ lên rất nhanh trên cả 3 hệ thống sông Đà, Thao và sông Lô.
Trên sông Đà: Ở thượng nguồn mực nước lên lại từ ngày 15 từ Lai Châu đến Hoà Bình lũ lên nhanh nhất trong 2 ngày 17 và 18. Xem biểu 7.
Biểu 2.7: Biên độ nước lên tại một số trạm - sông Đà
|
Trạm
|
Biên độ nước lên (m)
|
| |
ngày 16
|
ngày 17
|
ngày 18
|
|
Lai Châu
|
3,43
|
4,42
|
3,26
|
|
Tạ Bú
|
0,59
|
3,33
|
3,61
|
|
Vạn Yên
|
0,19
|
3,19
|
5,83
|
|
Hoà Bình
|
-0,14
|
0,86
|
0,86
|
Trên sông Đà, ở mức lũ cao, cường suất nước lên như vậy là rất lớn và ít khi gặp thấy.
Lúc 7h ngày 19 tháng VIII, mực nước Hoà Bình lên đến mức 23,20m rồi dừng lại một ít, sau đó lên thêm 0,41m và tới đỉnh 23,61m (18h/19), đứng thứ 2 tính từ đầu thế kỷ tới nay, sau năm 1945. Lưu lượng lớn nhất là 16.100m3/s, đứng thứ 3 sau năm 1945 và năm 1964.
Diễn biến lưu lượng trên sông Đà từ thượng lưu đến hạ lưu cũng phù hợp với sự phân bố mưa trên lưu vực và tương tự với trường hợp lũ năm 1969, nhưng lượng nước năm 1971 lớn hơn năm 1969 một ít.
· Điều đáng chú ý đợt này, nguồn gốc lũ không phải ở khu vực Pa Thắng - Lai Châu mà hầu như trải khắp lưu vực, tuy có một trung tâm mưa trên 400mm ở vùng Sìn Hồ và một trung tâm nhỏ ở Mường Trai. Do đó nước tập trung nhanh, khi mưa trên lưu vực vừa mới dứt thì đã xuất hiện đỉnh lũ ở Hoà Bình.
Trên Sông Thao: Do mưa phân bố rộng và kéo dài nên lũ lớn đều từ thượng lưu đến hạ lưu và đỉnh lũ xuất hiện muộn hơn sông Đà
Ngày 16 và 17 tháng VIII, mực nước các trạm từ Lào Cai đến Yên Bái bắt đầu lên lại, ngày 17 lũ lên nhanh nhất. Ngày 18, mực nước Lào Cai xuống một ít, còn mực nước Yên Bái lên chậm sau đó lên nhanh hơn. Mực nước cao nhất đo được tại trạm Lào Cai là 86,85m (6h/19), cao hơn năm 1945 là 1,56m. Mực nước lớn nhất đo được ở Yên Bái là 33,04m (15h/20).
Khác với ngọn lũ lớn tháng VIII năm 1968, do mưa tập trung trên lưu vực Ngòi Thia, ngọn lũ năm 1971 có dạng bầu hơn (tổng lượng lũ 8 ngày của Yên Bái ứng với tổng lượng lũ 8 ngày lớn nhất của Sơn Tây là: Năm 1971 là 4,91 tỉ m3; năm 1968 là 3,70 tỉ m3 và năm 1945 là 3,9 tỉ m3) nên khi truyền về hạ du ít bẹt hơn. Tại Yên Bái tuy mực nước đỉnh lũ có thấp hơn năm 1968 là 7cm, nhưng về tới trạm thuỷ văn Hạ Hoà đã cao hơn năm 1968 là 23cm, tới Phú Thọ gặp nước ứ vật của sông Lô và Đà nên mực nước hạ lưu sông Thao dâng cao chưa từng thấy. Tại trạm Phú Thọ Hmax = 20,84m (9h/20), sau khi đã bị ảnh hưởng của vỡ đê Lâm Thao, Thanh Ba và Cẩm Khê. Đê sông Thao năm 1971 được củng cố nhiều hơn năm 1968, nên so với năm 1968 đê vỡ ở mức nước cao hơn (năm 1968 không vỡ đê Lâm Thao nhưng đê Tam Nông bị vỡ lúc 5h/14, mực nước Phú Thọ 19,20m; Vực Trường, Thanh Ba vỡ khi mực nước Phú Thọ 19,80m. Năm 1971, đê Thanh Ba vỡ ở mức 20,50m, đê Tam Nông chủ động phá lúc 5h/22 khi mực nước Phú Thọ 20,60m và đã xuống được 29cm. Đê Lâm Thao vỡ lúc 4h/20 khi mực nước Phú Thọ 20,60m). Nếu không bị tràn vỡ đê thì mực nước hoàn nguyên tại trạm Phú Thọ có thể lên đến 21,1 ¸ 21,2m.
Biên độ mực nước lũ trên sông Lô tăng dần từ thượng lưu đến hạ lưu, chứng tỏ mưa khu giữa Hà Giang - Hàm Yên rất lớn. Xem biểu 8.
|
Trạm
|
Long Đàm Trại
|
Hà Giang
|
Bắc Quang
|
Vĩnh Tuy
|
Hàm Yên
|
|
D HL(m)
|
3,6
|
7,95
|
9,04
|
9,09
|
10,05
|
Lưu lượng lớn nhất tại Hàm Yên là 5130m3/s, tại Chiêm Hoá 6250 m3/s, như vậy thành phần lũ của sông Gâm lớn hơn sông Lô một ít.
Tại Tuyên Quang, mực nước cao nhất đo được là 31,89m (5h/20) cao hơn lũ năm 1945 là 3,08m, cao hơn lũ năm 1969 là 1,71m.
Lũ sông Chảy lên muộn hơn lũ trên sông Lô và có phần nào bị ảnh hưởng điều tiết của kho nước Thác Bà đang hình thành. Vào lúc 6h/19/VIII, nhận thấy lũ thượng nguồn sông Chảy về lớn, công trường Thác Bà đã mở nốt cửa cống thứ 3, làm cho mực nước hạ du lên rất nhanh. Trong khi đó ở thượng lưu đập, do thoát nước bị hạn chế nên mực nước vẫn tiếp tục dâng lên. Mực nước cao nhất đo được tại trạm thuỷ văn Thác Bà là 29,60m (9h/21), lưu lượng lớn nhất là 2400 m3/s. Ước tính nếu không bị ảnh hưởng điều tiết thì lưu lượng tại trạm Thác Bà có thể đạt 2800 đến 3000m3/s.
Mực nước đỉnh lũ ở Phù Ninh xuất hiện muộn hơn ở Hoà Bình, Phú Thọ và đứng tương đối lâu: 41,58m (2h/21), cao hơn lũ 1969 là 0,96m, cao hơn lũ năm 1945 là 1,65m (Hmax 1945 Phù Ninh là mực nước điều tra lũ của VPSH). Lưu lượng lớn nhất tại Phù Ninh là 13.800 m3/s.
Tại tuyến Hoà Bình, Phú Thọ, Phù Ninh, vào lúc 13h/20/VIII, tổng lưu lượng 3 sông Đà, Thao, Lô đạt gần 4 vạn m3/s (39.990 m3/s), khi ấy lưu lượng Hoà Bình đã giảm trước 12-18h. Lưu lượng trạm Phú Thọ (hoàn nguyên) vừa tới đỉnh, lưu lượng trạm Phù Ninh còn cách đỉnh 6h. Nếu xét về mực nước thì Hmax Thanh Ba còn cách đỉnh 12h, Hmax Phù Ninh còn cách đỉnh 18h.
-
Diễn biến lũ ở hạ lưu sông Hồng trong giai đoạn mức nước cao có thể tóm tắt như sau:
- 7h ngày 18, mực nước Hà Nội là 11,53m cao hơn mức báo động III 3cm, mực nước lên tương đối nhanh.
- 7h ngày 19, mực nước Hà Nội lên tới 12,47m, trong ngày 19/VIII các đê ở hạ du sông Lô, Đà và đê tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Vĩnh Tường, ở hữu ngạn sông Hồng đê bối thuộc huyện Thanh Trì đều bị tràn, vỡ. Lúc 24h ngày 19, mực nước Việt Trì lên đến mức 16,72m đột nhiên giảm xuống 4cm rồi lên lại vào 5h ngày 19. Sau đó 10h vào lúc 12h ngày 19 mực nước Hà nội lên đến mức 12,66m đứng trong 3 giờ, sau đó lại lên nhanh với cường suất 5-9cm/h.
- Hồi 4h ngày 20, mở đập Vân Cốc, cũng 4h ngày 20 bắt đầu vỡ đê Lâm Thao làm cho mực nước Việt Trì đang lên với cường suất trung bình 3cm/h. Đến 12h/20 mực nước Việt Trì từ mức 18,00 m giảm đi 1cm và đứng ở mức 17,99m trong 6 giờ, rồi lại tiếp tục giảm 6cm trong vòng 11h đến 5h ngày 21. Mực nước Hà Nội lên chậm dần và gần như đứng ở mức 13,84m và xuống 2cm trong vòng 11 giờ từ 19h/20 đến 5h/21.
- Hồi 6h ngày 21, vùng Lâm Thao nước lũ đã lấp đầy, đồng thời nước trong cánh đồng Lâm Thao đổ ra sông ở nhiều nơi. Lúc 5h ngày 21 đê Vĩnh Lại có tới 693m đê bị vỡ. Hồi 9h ngày 21 đê Cao Xá và Minh Nông bị vỡ một đoạn dài 470m, nên mực nước Việt Trì lên lại và ngay sau đó mực nước Hà Nội cũng lên lại. Mực nước cao nhất đo được ở Việt Trì là 18,17m (24h/21), ở Sơn Tây là 16,29m (23h/21), Hà Nội là 14,13m (5h/22), cao hơn mực nước thực đo lũ năm 1945 là 1,45m.
Thời gian chênh lệch đỉnh lũ 3 trạm Việt trì, Sơn Tây và Hà Nội không chênh lệch nhau mấy (Hà Nội lên lại trước Sơn Tây 2h) có thể là do đặc điểm thuỷ lực của một đoạn sông có phân lũ.
- Vào lúc 1h45' ngày 22, vỡ đê Khe Thượng trên sông Đà.
- Vào hồi 5h ngày 22, phá đê Tam Nông ở hữu ngạn sông Thao làm cho mực nước hạ lưu sông Hồng rút nhanh nhưng không ảnh hưởng tới mực nước đỉnh lũ Hà Nội.
- Vào hồi 20h45' ngày 22 vỡ đê Cống Thôn ở tả ngạn sông Đuống, lúc mực nước Hà Nội là 13,87m đã xuống được 26cm. Do vỡ đê Cống Thôn làm cho mực nước Thượng Cát, Hà Nội xuống nhanh hơn mực nước Việt Trì, Sơn tây.
Thời gian nước lên tại Hà Nội là 8 ngày 3 giờ, nếu không bị ảnh hưởng phân lũ Vân Cốc và vỡ đê Lâm Thao thì đỉnh lũ Hà Nội có thể xuất hiện sớm hơn vào khoảng 19h ngày 21 tháng 8, tức là sau khi dứt mưa trên toàn lưu vực đúng một ngày.
Cũng từ thực tế trên, chúng ta thấy tõ ràng rằng, việc kéo dài thời gian dự kiến của dự báo cho Hà Nội để phục vụ cho việc phân chậm lũ và điều hành hồ Hoà Bình... sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu không có sự dự báo chính xác về mưa trên lưu vực.
Thời gian mực nước duy trì trên mức 11,50m ở Hà Nội kéo dài trên 8 ngày, trên mức 13,30m kéo dài trong khoảng 3,5 ngày.
Lưu lượng lớn nhất đo được tại Sơn Tây là 34.000 m3/s, tại Hà Nội là 22.200 m3/s, tại Thượng Cát trên sông Đuống là 9.150 m3/s. Tổng lượng nước thực đo qua mặt cắt Sơn Tây từ ngày 13 đến 26 tháng VIII là 25,6x109 m3/s. Tổng lượng nước mất đi qua Khe Thượng khoảng 500-600x106m3, qua cống phân lũ Văn Cốc khoảng 700¸ 900 x 106m3.
Lưu lượng lớn nhất hoàn nguyên tại Sơn Tây đạt khoảng 37000m3/s tại Hà Nội + Thượng Cát khoảng 33.800 m3/s. Tổng lượng lũ hoàn nguyên qua Sơn Tây bằng khoảng 26,2x109m3.
Đặc điểm lũ.
Cường suất mực nước trung bình tương ứng từ mức báo động III trở lên của Hà Nội: Tại Hoà Bình 3,7cm/h (năm 1945: 2cm/h); Tại Yên Bái là 3,9cm/h (1945: 1,3cm/h); Tại Tuyên Quang 8,8cm/h (1945: 3cm/h). Tổng lưu lượng 3 trạm Hoà Bình, Phú Thọ và Phù Ninh trung bình trong mỗi giờ tăng lên được 275 m3/s (năm1945 là 122 m3/s).
Cường suất nước lên ở phần nước cao rất lớn, dạng lũ nhọn. Những đặc điểm đó do 2 nhân tố quyết định: Dạng phân bố mưa theo thời gian (tập trung vào đợt mưa về cuối) và nguồn gốc lũ (chủ yếu là do lũ sông Lô và đại bộ phận vùng sinh lũ nằm trên địa phận Việt Nam).
Biểu 2.9: Tổng lưu lượng tại các tuyến, Q (m3/s)
- Hệ thống đê bối, đê địa phương ở hạ lưu các hệ thống sông Đà, Thao, Lô và Hồng... đã làm cản trở điều kiện thoát lũ và góp phần làm cho lũ lên nhanh trong những ngày đầu cơn lũ.
- Cầu Long Biên bị ngập ở những nhịp có gia cố, cầu Đuống bị ngập sâu trên 0,5m.
- Lũ sông Thái Bình cũng rất lớn nên nước lũ sông Hồng thoát qua sông Đuống cũng bị hạn chế.
So sánh đặc điểm mưa lũ năm 1971 với lũ 1969 và lũ 1945 .
|
Tuyến
|
Các trạm
|
Q1max+...+Q3max
|
Q1max+...+Q3max (nếu 3 đỉnh gặp nhau)
|
|
1
|
Lý Tiên Độ+Mạn Hảo+Long Đàm Trại
|
|
8.680
(3.420+4.930+330)
|
|
2
|
Lai Châu+Lào Cai + Hà Giang
|
20.300
(lúc 23h/18)
|
22.500
(11.000+8.450+3.060)
|
|
3
|
V.Yên+Y.Bái+Tuyên Quang+Thác Bà
|
40.870
(lúc 13h/19)
|
42450
(17.500+10.500+1.200+2.450)
|
|
4
|
Hoà Bình+Phú Thọ + Phù Ninh
|
39.990
(lúc 13/20)
|
40.600
16.100+10.600+13.900
|
Tổng lượng trận lũ từ 12 đến 24 tháng VIII qua tuyến Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang là 12,49x109m3. Lượng gia nhập ở hạ du 3 sông tương đối lớn nhưng trải ra trong nhiều ngày.
Sự tổ hợp của lũ đặc biệt lớn sông Lô với lũ đặc biệt lớn sông Thao; Sự tổ hợp ít thấy giữa lũ sông Hồng và sông Thái Bình; Giữa lũ trên nguồn về với úng trong đồng.Vị trí hết sức quan trọng của lũ sông Lô trong sự hình thành lũ đặc biệt lớn sông Hồng năm 1971.
Ở hạ du sông Hồng: Lũ lên nhanh là do sự tổ hợp lũ đặc biệt lớn trên sông Lô, sông Thao với lũ lớn trên sông Đà. Mực nước cả 3 sông đều lên nhanh trong 2 ngày 17 & 18 nên sau đó một ngày tức là vào ngày 18 & 19, mực nước Việt Trì, Sơn Tây, Hà Nội lên rất nhanh, cường suất trung bình trong 2 ngày 18 & 19 là 4cm/h.
Biểu 2.8: Biên độ lũ lên tại một số trạm dọc sông Lô
Biểu 2.5: Đặc trưng độ ẩm trong đất
|